20/05/2021 14:15
Xem với cỡ chữ

Chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước góp phần tích cực phát triển kinh tế - xã hội đất nước

Được thành lập theo Quyết định số 108/QĐ-TTg ngày 19/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) là Ngân hàng chính sách của Chính phủ, thực hiện chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước, góp phần tích cực cho tăng trưởng kinh tế, tăng cường an ninh và đảm bảo an sinh xã hội của đất nước.
Xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Đường lối đó được cụ thể hoá qua các chương trình, kế hoạch, biện pháp phát triển toàn diện nền kinh tế và qua việc sử dụng hợp lý, đồng bộ các công cụ tài chính - tín dụng. Trong đó, việc thành lập và phát huy vai trò của VDB để hỗ trợ phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội gắn với tăng trưởng bền vững. Trong khi các ngân hàng thương mại coi trọng hiệu quả kinh doanh là chủ yếu, thì những hoạt động đầu tư lớn, chậm thu hồi vốn, lợi nhuận không cao, tập trung vào những lĩnh vực thiết yếu, then chốt của nền kinh tế (cho vay phát triển kỹ thuật hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển nông, lâm nghiệp và xoá đói, giảm nghèo ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn…) chính là nhiệm vụ chính trị và cũng là sứ mệnh thực thi chính sách tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước do Chính phủ trao cho VDB. 
Đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước
Tín dụng đầu tư (TDĐT) của Nhà nước là biện pháp hỗ trợ về nguồn vốn từ Nhà nước đối với các dự án đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực, chương trình kinh tế lớn của Nhà nước và các vùng khó khăn cần khuyến khích, dưới hình thức cho vay ưu đãi thông qua một định chế tài chính chuyên biệt, bảo đảm phù hợp chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong nước và thông lệ quốc tế.
Chính sách TDĐT của Nhà nước được triển khai thực hiện từ năm 2000 thông qua Quỹ Hỗ trợ phát triển (DAF) được thành lập theo Nghị định số 50/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển. Năm 2006, cùng với xu thế hội nhập kinh tế và đổi mới hoạt động tài chính - ngân sách, hoạt động TDĐT của Nhà nước cũng có sự thay đổi với việc thành lập VDB trên cơ sở tổ chức lại DAF theo Quyết định số 108/QĐ-TTg ngày 19/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ. Việc tổ chức thực hiện chính sách TDĐT của Nhà nước theo mô hình ngân hàng phát triển thay cho mô hình quỹ tài chính nhà nước đã đánh dấu sự chuyển biến tích cực của quá trình cải cách tài chính công, mà cụ thể là của quá trình đổi mới phương thức tài trợ của Nhà nước đối với hoạt động đầu tư phát triển của nền kinh tế, phù hợp với các cam kết của Việt Nam về hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời là sự kết hợp tốt giữa tôn trọng các quy luật khách quan của kinh tế thị trường với chức năng của Nhà nước trong định hướng vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững.
Từ năm 2011, VDB thực hiện nhiệm vụ TDĐT của Nhà nước theo quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, Nghị định số 54/2013/NĐ-CP ngày 22/5/2013 và Nghị định số 133/2013/NĐ-CP ngày 17/10/2013 của Chính phủ bổ sung Nghị định số 75/2011/NĐ-CP về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. Thực hiện Chiến lược phát triển VDB đến năm 2020, tầm nhìn 2030 theo Quyết định số 369/QĐ-TTg ngày 28/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ, từ năm 2015 VDB thực hiện tái cấu trúc để có khuôn khổ quản trị mới, cải thiện hiệu quả hoạt động, tăng tính cạnh tranh và khả năng xử lý rủi ro. Nhằm đáp ứng yêu cầu tình hình mới, ngày 31/3/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 32/2017/NĐ-CP về tín dụng đầu tư Nhà nước (Nghị định số 32) thay thế Nghị định số 75/2011/NĐ-CP. 
Chặng đường 15 năm xây dựng và phát triển, với vai trò là đơn vị thực hiện nhiệm vụ TDĐT của Nhà nước, VDB đã tích cực góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa; Khuyến khích phát triển kinh tế tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; Phát triển khu vực nông nghiệp, nông thôn; Tập trung vốn thực hiện chủ trương xã hội hóa trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, nhà ở, bảo vệ môi trường… góp phần nâng cao dịch vụ công và đảm bảo an sinh xã hội theo các nghị quyết, chủ trương của Đảng, Nhà nước và các chương trình kinh tế của Chính phủ. 
Trong quá trình hoạt động, VDB đã đảm bảo huy động đủ nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế thông qua việc huy động và tài trợ vốn cho các dự án phát triển, đặc biệt là các dự án trọng điểm của Chính phủ. 
15 năm qua, VDB đã quản lý cho vay gần 200 chương trình, dự án trọng điểm (nhóm A) trên phạm vi cả nước; gần 400 dự án ngành điện; hơn 30 dự án ngành xi măng; gần 650 dự án lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, lĩnh vực trồng rừng nguyên liệu và trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản và chế biến các sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm cây công nghiệp, lâm sản, thuỷ hải sản và thực phẩm, kiên cố hóa kênh mương, đường giao thông nông thôn, xây dựng mới trạm bơm nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cụm tuyến dân cư vùng lũ; 310 dự án an sinh xã hội (trường học, bệnh viện, xử lý rác thải, cấp nước sạch, nhà ở xã hội…)…
Các dự án VDB cho vay đầu tư là những dự án thuộc các ngành, lĩnh vực được Chính phủ khuyến khích phát triển như: sản xuất điện, thép, xi măng, phân bón...; phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, hệ thống cấp nước, phát triển quỹ nhà ở tập trung, bảo vệ môi trường; các dự án phát triển nông thôn (phát triển giống thuỷ sản, giống cây trồng, vật nuôi; xây dựng cơ sở chế biến gia súc, gia cầm tập trung); các dự án thuộc lĩnh vực xã hội hóa giáo dục, y tế...; các dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Phần lớn những dự án vay vốn TDĐT tại VDB có tổng mức đầu tư lớn, thời gian đầu tư và thu hồi vốn kéo dài mà các ngân hàng thương mại ít cho vay, vì không đủ tiềm lực tài chính hoặc không muốn gánh chịu rủi ro. Do đó, việc tiếp cận được với nguồn vốn TDĐT của VDB đã góp phần giúp cho các chủ đầu tư đủ sức thực hiện nhiều dự án lớn, quan trọng: Thuỷ điện Sơn La, Thuỷ điện Lai Châu, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Nhà máy đạm Ninh Bình, Vệ tinh Vinasat 1 và 2, Đường ôtô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, Nhà máy điện gió Bạc Liêu, Nhà máy sữa TH, Hệ thống tải điện miền Trung, miền Nam...
Các dự án được đầu tư bằng nguồn vốn TDĐT của Nhà nước hoàn thành đưa vào sử dụng góp phần nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân trong vùng hưởng lợi của dự án, thông qua việc tạo ra nhiều việc làm mới, nâng cao năng lực của các cơ sở đào tạo và các bệnh viện, cải thiện môi trường sống của nhân dân…
Trong quá trình phát triển, với việc cung ứng một lượng vốn đầu tư tương đối lớn cho nền kinh tế, hoạt động TDĐT của VDB đã đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận, không chỉ góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn đem lại những hiệu quả rất lớn về mặt an sinh xã hội. 
Khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ TDĐT hiện nay
15 năm đồng hành cùng đất nước, bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình hoạt động, VDB có những khó khăn, hạn chế ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hoạt động và thực hiện nhiệm vụ chính trị được Chính phủ giao, đó là:  
Thứ nhất, do những quy định về mô hình hoạt động và khung chính sách dựa trên sự kế thừa các quy định áp dụng đối với Quỹ Hỗ trợ phát triển và các quy định phù hợp với tình hình giai đoạn trước đây, nên hoạt động của VDB kém linh hoạt so với các tổ chức tài chính, tổ chức tín dụng khác, rủi ro pháp lý cao. Quyền tự chủ của VDB bị hạn chế bởi nhiều quy định giới hạn trong huy động vốn, cho vay, thu hồi và xử lý nợ. Mặt khác, quá trình nghiên cứu, xây dựng, đổi mới chính sách TDĐT của Nhà nước khá chậm, chưa giải quyết toàn diện các vấn đề vướng mắc, chưa thật sự phù hợp thực tiễn…
Thứ hai, từ năm 2006 đến nay, chính sách TDĐT của Nhà nước đã có sự thu hẹp đáng kể về đối tượng cho vay cũng như các điều kiện ưu đãi. Nguồn vốn TDĐT của Nhà nước hiện nay nhìn chung vẫn có một số điểm hấp dẫn về thời hạn cho vay tương đối dài, lãi suất cho vay không cao và không phải trả một số loại phí như khi vay vốn từ ngân hàng thương mại… Tuy nhiên, để được vay, chủ đầu tư phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo những quy định chặt chẽ của Chính phủ mà trong đó có những quy định, thủ tục không còn phù hợp thực tế; đó chính là rào cản đối với doanh nghiệp tiếp cận với nguồn vốn TDĐT của Nhà nước.
Thứ ba, việc thu hẹp đối tượng vay vốn TDĐT của Nhà nước làm giảm gánh nặng hỗ trợ của NSNN đối với những ngành, lĩnh vực đã cải thiện được khả năng cạnh tranh và sinh lời hoặc những ngành, lĩnh vực mà Nhà nước không còn khuyến khích đầu tư. Tuy nhiên, việc làm này cũng đồng thời hạn chế vai trò của VDB trong việc cung ứng vốn đầu tư cho nền kinh tế, bởi nhiều loại dự án, mặt hàng thuộc lĩnh vực tài trợ của VDB trước đây phải chuyển sang sử dụng các nguồn vốn khác.
Thứ tư, chính sách về xử lý rủi ro (XLRR) trong hoạt động TDĐT của Nhà nước được Chính phủ quy định thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế. Phần lớn các biện pháp XLRR (khoanh nợ, xóa nợ gốc, xóa nợ lãi, bán nợ) là do Bộ Tài chính và Thủ tướng Chính phủ quyết định; còn thẩm quyền của VDB chỉ được giới hạn trong việc quyết định điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ đối với các dự án, khoản vay gặp rủi ro. Trong nhiều năm liền, VDB chỉ được trích dự phòng rủi ro hàng năm tối đa bằng 0,5% dư nợ bình quân, không phân biệt các khoản nợ có mức độ rủi ro khác nhau. Với mức trích lập thấp như trên, VDB khó có đủ nguồn lực tài chính để XLRR. Mặt khác, chi phí dự phòng rủi ro chính là phí quản lý NSNN cấp hàng năm nên việc sử dụng quỹ DPRR phải tuân thủ những quy định chặt chẽ về hồ sơ, thủ tục và thẩm quyền quyết định. 
Thứ năm, nghị định số 32/2017/NĐ-CP ngày 31/3/2017 của Thủ tướng Chính phủ quy định lãi suất cho TDĐT của Nhà nước được xác định bằng mức lãi suất bình quân gia quyền của các mức lãi suất trúng thầu trái phiếu VDB được Chính phủ bảo lãnh kỳ hạn 05 năm trong thời gian 01 năm trước thời điểm công bố lãi suất cộng tỷ lệ chi phí quản lý hoạt động và DPRR của VDB, trong đó tỷ lệ chi phí quản lý ổn định trong thời kỳ 03 năm là do Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. Tuy nhiên, kể từ khi Nghị định này có hiệu lực đến nay, cấp có thẩm quyền chưa quyết định tỷ lệ chi phí quản lý làm cơ sở để VDB công bố lãi suất cho vay đầu tư. Theo đó, từ 15/5/2017, VDB không thể cho vay thêm đối với dự án nào ngoài những dự án đã ký hợp đồng tín dụng trước khi Nghị định số 32/2017/NĐ-CP có hiệu lực. 
Cùng với đó, quy định về điều kiện cho vay và giải ngân vốn TDĐT được đưa ra tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP cũng chưa thực sự hợp lý, gây khó khăn cho VDB nếu triển khai việc cho vay theo Nghị định này.
Định hướng phát triển trong giai đoạn mới
Chặng đường mới, mục tiêu của VDB là xây dựng ngân hàng chính sách của Chính phủ hoạt động chuyên nghiệp, thực thi có hiệu quả chính sách tín dụng của Nhà nước, góp phần thực hiện thành công Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 và hiện thực hóa khát vọng “Việt Nam hùng cường” vào năm 2045 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. 
Nghị quyết Đại hội đảng bộ Ngân hàng phát triển Việt Nam lần thứ III, nhiệm kỳ 2020-2025 đã đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể, trong đó tập trung triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm:
Tiếp tục thực hiện Chiến lược phát triển VDB tầm nhìn đến năm 2030 và Đề án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu của VDB giai đoạn 2019 – 2021, đảm bảo chất lượng về tăng trưởng tín dụng. Khắc phục những tồn tại, hạn chế yếu kém, từng bước đưa hoạt động TDĐT của VDB an toàn, bền vững hơn, phù hợp với nguyên tắc thị trường và các mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế - xã hội. 
Chủ động, tích cực phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hoàn thiện, ban hành đồng bộ, đầy đủ hệ thống các văn bản hướng dẫn quy trình, quy chế về hoạt động nghiệp vụ TDĐT, quản trị rủi ro và xử lý nợ. Đầu tư, hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin, ứng dụng các phần mềm hiện đại trong quản lý hoạt động TDĐT. 
Tập trung thực hiện tốt hoạt động quản lý, cho vay vốn TDĐT của Nhà nước; Giám sát vốn vay, tài sản đảm bảo chặt chẽ; Quyết liệt đôn đốc thu hồi nợ và xử lý nợ xấu; Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ, đảm bảo tính tuân thủ trong hoạt động tín dụng, hạn chế tối đa nợ xấu mới phát sinh. 
Trong thời gian tới, VDB rất cần Chính phủ và các Bộ, ngành nghiên cứu sớm sửa đổi, ban hành các văn bản khung pháp lý đối với hoạt động TDĐT của Nhà nước, trọng tâm là các vấn đề về: xác định đối tượng vay vốn TDĐT; lãi suất cho vay; quy định về các điều kiện cho vay, thẩm quyền của VDB trong xử lý rủi ro và tạo lập nguồn vốn… để hoạt động của VDB hiệu quả, từ đó nâng tầm chính sách TDĐT của Nhà nước phục vụ đắc lực hơn nữa công cuộc phát triển kinh tế - xã hội đất nước./.
BBT 
 
Tìm theo ngày :

Khách online:532
Lượt truy cập: 11631289