30/06/2021 10:04
Xem với cỡ chữ

ĐỔI MỚI CƠ CHẾ NHẰM NÂNG CAO TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

Nguyễn Cảnh Hiệp, Ban Kế hoạch - Nguồn vốn (Bài đạt giải Nhì - Cuộc thi viết về 15 năm thành lập VDB - Bài viết đã được tác giả biên tập phù hợp đăng trên Tạp chí HTPT)
Bài viết phân tích tình hình tài chính của Ngân hàng Phát triển Việt Nam từ khi thành lập đến hết năm 2020, chỉ ra những nguyên nhân về cơ chế dẫn tới tình trạng thâm hụt tài chính trong những năm gần đây. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số cơ chế mà các cơ quan quản lý Nhà nước cần thực hiện nhằm giảm tình trạng thâm hụt và nâng cao tự chủ về tài chính của ngân hàng này trong thời gian tới.
Đặt vấn đề
Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) được thành lập theo Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư (TDĐT), tín dụng xuất khẩu (TDXK) của Nhà nước và các nhiệm vụ khác được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao.
Trải qua 15 năm hoạt động, VDB đã cấp tín dụng hàng trăm ngàn tỷ đồng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần. Số vốn này đã đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu đầu tư phát triển nhằm tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Ngoài ra, nguồn vốn tín dụng từ VDB còn góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, phát triển nông nghiệp, nông thôn, bảo vệ môi trường và đảm bảo an sinh xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được nói trên, hoạt động của VDB thời gian qua cũng bộc lộ những điểm hạn chế mà trong đó, tình trạng thâm hụt tài chính trong những năm gần đây là một điều rất đáng quan ngại. Sự thâm hụt này khiến VDB không có điều kiện để bổ sung vốn điều lệ hoặc trích lập các quỹ nhằm đầu tư mở rộng quy mô hoạt động và đổi mới công nghệ trang thiết bị, điều kiện làm việc cũng như khen thưởng và chăm lo đời sống phúc lợi cho người lao động . Ngoài ra, tình trạng thâm hụt nói trên cũng làm cho VDB bị mất uy tín và gặp khó khăn trong việc huy động vốn trên thị trường.
Trong khi đó, nguyên tắc quản lý tài chính đối với VDB cũng như Chiến lược phát triển ngân hàng này đều xác định tự chủ tài chính là một mục tiêu quan trọng cần đạt tới đối với VDB. 
Chính vì vậy, việc nghiên cứu giải pháp đổi mới cơ chế nhằm giảm thâm hụt và nâng cao tự chủ tài chính trong hoạt động của VDB là việc làm quan trọng và cần thiết.
Vài nét về cơ chế tài chính đối với hoạt động của VDB
Theo cơ chế tài chính do Thủ tướng Chính phủ ban hành, VDB được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán, không phải thực hiện dự trữ bắt buộc và tham gia bảo hiểm tiền gửi. Vốn điều lệ của VDB được ngân sách nhà nước (NSNN) cấp ban đầu và cấp bổ sung tuỳ thuộc vào yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. 
Trong quá trình thực hiện chính sách TDĐT và TDXK của Nhà nước, VDB được miễn nộp thuế cũng như các khoản nộp NSNN, ngoài ra còn được NSNN cấp bù chênh lệch lãi suất (CLLS) và phí quản lý (PQL) hàng năm. Mức cấp bù CLLS được xác định trên cơ sở chênh lệch giữa lãi suất hoà đồng các nguồn vốn với lãi suất cho vay và dư nợ vay TDĐT, TDXK của Nhà nước. PQL của VDB được xác định bằng 25% trên số thu nợ lãi cho vay TDĐT và TDXK của Nhà nước . Cùng với đó, VDB cũng được hạch toán một số khoản khác vào thu nhập của mình, như: thu lãi cho vay, phí bảo lãnh, lãi tiền gửi; thu từ các hoạt động dịch vụ, thu từ cho thuê tài sản; thu phí nhận uỷ thác cấp phát vốn, cho vay lại; thu về chênh lệch tỷ giá; các khoản thu từ việc nhượng bán, thanh lý tài sản; thu về các khoản vốn đã được xử lý bằng dự phòng rủi ro (DPRR); thu tiền phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng...
Để phục vụ các hoạt động của mình,VDB được thực hiện một số khoản chi, bao gồm chi quản lý (tiền lương, tiền công, ăn ca, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn...), chi hoạt động nghiệp vụ (trả lãi vốn huy động, trả lãi tiền gửi, DPRR...) và chi phí khác (chi nhượng bán, thanh lý tài sản; chi bảo hiểm tài sản và các loại bảo hiểm khác...).
Điều đáng chú ý là mặc dù được thực hiện DPRR như các tổ chức tín dụng khác, tuy nhiên, mức DPRR trong hoạt động TDĐT và TDXK của VDB lại thấp hơn rất nhiều so với các tổ chức tín dụng thông thường. Cho đến hết năm 2016, VDB chỉ được trích quỹ DPRR hàng năm tối đa bằng 0,5% trên dư nợ bình quân TDĐT và TDXK mà không được trích dự phòng cụ thể cho các khoản nợ phù hợp với mức độ rủi ro. Từ năm 2017, sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 32/2017/NĐ-CP về TDĐT của Nhà nước, VDB mới được trích DPRR cụ thể đối với các khoản nợ TDĐT với mức trích không vượt quá mức trích áp dụng với các tổ chức tín dụng thông thường  .
Thực trạng tình hình tài chính của VDB giai đoạn 2006-2020
Với cơ chế tài chính được quy định như mô tả ở phần 2 của bài viết, trong suốt 15 năm hoạt động (2006-2020), thu nhập của VDB chủ yếu được hình thành từ 3 khoản lớn là thu lãi cho vay, thu cấp bù CLLS và PQL từ NSNN, thu lãi tiền gửi. Thống kê từ báo cáo quyết toán tài chính của VDB hàng năm cho thấy, bình quân trong giai đoạn 2006-2020, các khoản thu này chiếm tỷ trọng lên tới hơn 95% tổng thu nhập của VDB. 
Điều đáng nói là mặc dù đóng vai trò khoản thu lớn trong tổng thu nhập của VDB, song từ năm 2006 cho đến nay, số cấp bù CLLS và PQL thường xuyên không được bố trí đủ trong dự toán NSNN. Đến hết năm 2020, các khoản cấp bù CLLS và PQL mà NSNN chưa thanh toán đủ cho VDB đã lên đến con số đáng kể.
Ở khía cạnh chi phí, trong cả giai đoạn 2006-2020, khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí của VDB là chi trả lãi huy động vốn với mức chi bình quân hàng năm lên tới gần 90% tổng chi phí. Trong khi đó, các khoản chi còn lại (chi DPRR, chi tiền lương và các khoản chi khác) chiếm tỷ trọng nhỏ, chỉ hơn 10% trong tổng chi phí giai đoạn 2006-2020.  
Đáng chú ý, mặc dù có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn và phòng ngừa rủi ro cho hoạt động của VDB song chi phí DPRR thời gian qua lại chiếm tỷ trọng khiêm tốn với mức chi trung bình hàng năm giai đoạn 2006-2016 chỉ chiếm khoảng 4-5% tổng chi. Từ năm 2017, việc trích lập DPRR trong hoạt động TDĐT được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP; tuy nhiên, VDB không trích thêm DPRR đối với hoạt động này do không có chênh lệch thu - chi.  
Đi cùng với diễn biến thu nhập và chi phí như trên, tình hình cân đối tài chính của VDB trong giai đoạn 2006-2020 cũng có những thay đổi qua các thời kỳ khác nhau.
Từ năm 2012 trở về trước, kết quả tài chính của VDB luôn thặng dư. Tốc độ tăng trưởng dư nợ TDĐT và TDXK hàng năm thường xuyên được duy trì ở mức 13-15%/năm  kèm theo khả năng trả nợ tương đối tốt của các dự án và khách hàng vay vốn đã làm cho số thu lãi cho vay của VDB tăng dần mỗi năm. Bên cạnh đó, việc NSNN bố trí kế hoạch thanh toán các khoản cấp bù CLLS và PQL trong các năm 2006-2011 với tỷ lệ khá cao so với số thực tế phát sinh cũng mang lại cho VDB một nguồn thu lớn. Ngoài ra, mặt bằng lãi suất trên thị trường tiền tệ tăng lên trong nhiều năm dưới áp lực của lạm phát  cũng tạo ra thu nhập đáng kể cho VDB từ số thu lãi tiền gửi. 
Tuy nhiên, từ năm 2013 đến nay, cân đối tài chính của VDB luôn bị thâm hụt do tác động của nhiều nguyên nhân khác nhau. Bên cạnh sự sụt giảm đáng kể của số thu lãi tiền gửi do mặt bằng lãi suất trên thị trường tiền tệ hạ xuống, trong giai đoạn này, số lãi cho vay mà VDB thu được cũng giảm mạnh do có những dự án và khách hàng vay vốn gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh không trả được nợ và hoạt động cho vay của VDB bị thu hẹp quy mô, đặc biệt là từ năm 2017 sau khi Nghị định số 32/2017/NĐ-CP có hiệu lực . 
Cùng với đó, việc NSNN chậm cấp bù CLLS và PQL cũng làm tình hình tài chính của VDB thêm khó khăn vì phải trả một số tiền lãi tương đối lớn cho việc huy động vốn để bù đắp phần vốn hoạt động bị thiếu hụt do NSNN chậm thanh toán. Tính chung cả giai đoạn 2013-2020, tổng số thâm hụt tài chính của VDB đã lớn hơn số thặng dư tài chính của các năm trước cộng lại.  
Đánh giá một cách tổng quát, với cơ chế tài chính được quy định như mô tả ở phần 2 và số liệu được phân tích ở phần 3 của bài viết, có thể thấy rằng tình trạng tài chính thiếu ổn định và thâm hụt tài chính kéo dài của VDB thời gian qua bắt nguồn từ một số nguyên nhân cơ bản sau đây:
Thứ nhất, nguồn thu quan trọng nhất của VDB là thu lãi cho vay bị sụt giảm nghiêm trọng do quy mô cho vay của VDB bị thu hẹp, trong khi số dự án và khách hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ lại tăng lên, làm giảm số tài sản sinh lời (số nợ có khả năng mang lại tiền lãi) của VDB. 
Thứ hai, số thu cấp bù CLLS và PQL mặc dù chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu thu nhập của VDB nhưng lại phụ thuộc hoàn toàn vào tình trạng của NSNN, trong khi NSNN nhiều năm qua thường xuyên bị bội chi , dẫn tới số thu hàng năm của VDB bị thiếu hụt lớn.
Thứ ba, các nguồn thu khác của VDB, ngoài thu lãi cho vay và thu cấp bù CLLS và PQL, rất đơn điệu và không có khả năng tạo ra nguồn thu đủ lớn để bổ sung thu nhập khi các khoản thu nói trên bị sụt giảm. 
Trong bối cảnh nguồn lực của Nhà nước vẫn còn nhiều khó khăn và Bộ Chính trị đã có chủ trương giảm bội chi NSNN để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững , thì việc giảm thâm hụt và nâng cao mức độ tự chủ về tài chính của VDB trên cơ sở giảm dần sự phụ thuộc vào NSNN là hết sức cần thiết. Việc làm này không chỉ làm giảm gánh nặng của NSNN và góp phần vào việc cơ cấu lại NSNN mà còn từng bước làm tăng tính tự chủ của VDB trong hoạt động tín dụng nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này.
Một số đề xuất đổi mới cơ chế nhằm nâng cao tự chủ tài chính của VDB
Kết quả phân tích ở phần 3 của bài viết cho thấy, với thực trạng tình hình tài chính của VDB như hiện nay, để nâng cao tự chủ tài chính đối với ngân hàng này, giải pháp cốt lõi là cần phải đổi mới cơ chế theo hướng tạo điều kiện để tăng quy mô thu lãi cho vay của VDB và giảm sự phụ thuộc về thu nhập của VDB vào NSNN, đồng thời mở rộng nguồn thu của VDB từ các hoạt động khác ngoài hoạt động cho vay. 
Đến thời điểm hiện tại, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 32/2017/NĐ-CP về TDĐT của Nhà nước và Nghị định số 46/2021/NĐ-CP về chế độ quản lý tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động đối với VDB, trong đó có một số quy định có tác động đến thu nhập và chi phí của VDB (chẳng hạn, quy định về xác định lãi suất TDĐT tại Điều 9 Nghị định số 32/2017/NĐ-CP, quy định về DPRR tại Điều 16 Nghị định số 32/2017/NĐ-CP và Điều 15, Điều 16 Nghị định số 46/2021/NĐ-CP, quy định về cấp bù CLLS và PQL tại Điều 19, Điều 20 Nghị định số 46/2021/NĐ-CP…). Tuy nhiên, để những quy định này thực sự phát huy được hiệu quả tích cực trong việc làm giảm thâm hụt và nâng cao tự chủ tài chính của VDB, bên cạnh việc tích cực thực hiện các giải pháp hiện đại hoá hoạt động và nâng cao năng lực quản trị rủi ro nhằm giảm thiểu các tổn thất và chi phí phát sinh trong hoạt động của mình, VDB cần nghiên cứu báo cáo Chính phủ và các cơ quan chức năng cho phép thực hiện một số cơ chế sau đây:
Một là, tạo điều kiện thuận lợi để giảm chi phí tạo lập nguồn vốn cho VDB
- Tiếp tục bố trí NSNN để cấp đủ vốn điều lệ của VDB theo lộ trình được phê duyệt tại Chiến lược phát triển VDB đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 để sớm đạt mức vốn điều lệ được quy định tại Điều lệ tổ chức và hoạt động của VDB (30.000 tỷ đồng). 
- Bố trí kế hoạch NSNN để thanh toán đủ số cấp bù CLLS và PQL còn thiếu cho VDB đến hết năm 2020, đồng thời không để tình trạng nợ đọng tương tự xảy ra trong các năm tiếp theo.
- Xem xét bố trí NSNN để hỗ trợ phần tiền lãi mà VDB phải trả từ việc huy động vốn nhằm bù đắp cho số tiền CLLS và PQL mà NSNN không thanh toán kịp thời cho VDB trong những năm qua.
- Cho phép VDB thực hiện phương án cơ cấu lại danh mục trái phiếu theo mặt bằng lãi suất đang ở mức thấp hiện nay để giảm chi phí trả lãi huy động vốn từ các lô trái phiếu đã phát hành với lãi suất cao trong các năm trước đây.
Hai là, đổi mới chính sách TDĐT nhằm tạo điều kiện thuận lợi mở rộng quy mô cho vay của VDB
- Mở rộng danh mục đối tượng vay vốn TDĐT của Nhà nước theo hướng xem xét bổ sung một số loại hình dự án thuộc các lĩnh vực được ưu tiên phát triển theo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 và các Nghị quyết của Đảng về phát triển một số ngành kinh tế quan trọng (công nghiệp, năng lượng, kinh tế biển…), bên cạnh các dự án thuộc danh mục đối tượng vay vốn TDĐT của Nhà nước được quy định tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP hiện nay.
- Sửa đổi các quy định về điều kiện vay vốn TDĐT của Nhà nước theo hướng cho phép VDB được thực hiện chính sách phân biệt lãi suất cho vay và tỷ lệ bảo đảm tiền vay theo khách hàng vay vốn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có uy tín và có dự án hiệu quả được vay vốn với lãi suất thấp hơn và tỷ lệ bảo đảm tiền vay nhỏ hơn so với các doanh nghiệp khác. Việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay hoặc không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay đối với mỗi khoản vay do VDB quyết định và chịu trách nhiệm theo mức độ rủi ro của khoản vay.
- Về lãi suất cho vay: Chính sách lãi suất của VDB cần được điều chỉnh theo hướng tính đủ các chi phí (bao gồm cả chi phí huy động vốn, chi phí DPRR và các chi phí quản lý khác) vào lãi suất cho vay, trong đó, chi phí huy động vốn cần được tính đủ các chi phí phát sinh liên quan đến tạo lập nguồn vốn để cho vay chứ không chỉ là lãi suất trái phiếu kỳ hạn 05 năm như quy định tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP. Đồng thời, Nhà nước cần giao cho VDB chủ động trong việc xác định lãi suất cho vay phù hợp với tình hình hoạt động thực tế.
- Về hình thức cho vay: Sản phẩm tín dụng của VDB đối với các dự án đầu tư cần bao gồm cả cho vay vốn đầu tư tài sản cố định, cho vay vốn lưu động (trong trường hợp khách hàng có nhu cầu vay vốn lưu động từ VDB để vận hành dự án) và một số nghiệp vụ cấp tín dụng khác phù hợp với yêu cầu thực tế nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng., thay vì chỉ cho vay đầu tư tài sản cố định như hiện nay.
Ba là, đa dạng hoá hoạt động nghiệp vụ nhằm mở rộng nguồn thu của VDB
Bên cạnh hoạt động cho vay đối với các dự án đầu tư, Chính phủ cần xem xét cho phép VDB được thực hiện một số hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng có tính bổ trợ như kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vốn trên thị trường tiền tệ, cung cấp các dịch vụ ngân hàng phổ biến (thiết yếu) đáp ứng nhu cầu của các chủ đầu tư dự án mà VDB cho vay và các nhà thầu phục vụ dự án (ở giai đoạn đầu tư xây dựng) và khách hàng của dự án (ở giai đoạn vận hành), trong đó bao gồm cả nghiệp vụ cho vay bằng ngoại tệ.
Việc cung cấp các sản phẩm bổ trợ nói trên một mặt vừa đáp ứng tốt hơn nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng (thông qua việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng thiết yếu cho chủ đầu tư dự án và các nhà thầu phục vụ dự án), mặt khác giúp việc quản lý nguồn vốn của VDB trở nên có hiệu quả hơn và hỗ trợ phòng ngừa tốt hơn các loại rủi ro, đặc biệt là rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá (thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối và kinh doanh vốn trên thị trường tiền tệ). Ngoài ra, các dịch vụ này cũng mang lại cho VDB một số nguồn thu để bổ sung vào thu nhập, góp phần đa dạng hoá cơ cấu thu nhập của VDB thay cho cơ cấu dựa chủ yếu vào tiền lãi cho vay như hiện nay.
Kết luận
Với những giải pháp được thực hiện như đề xuất ở phần trên của bài viết, tài chính của VDB có thể cải thiện tình trạng thâm hụt và nâng cao dần khả năng tự chủ trên một số khía cạnh cơ bản: 
Một là, mở rộng quy mô cho vay của VDB, làm cơ sở tăng thu nhập từ số lãi cho vay thu được hàng năm.
Hai là, giảm được các khoản hỗ trợ từ NSNN đối với hoạt động của VDB, đặc biệt là CLLS và PQL, do các khoản này đã được tính đủ trong lãi suất cho vay của VDB.
Ba là, khắc phục được tình trạng căng thẳng và bị động về tài chính bắt nguồn từ việc chậm thanh toán các khoản cấp bù CLLS và PQL từ NSNN như đã xảy ra trong nhiều năm qua.
Bốn là, tạo thêm nguồn lực để hỗ trợ việc xử lý nợ xấu của VDB thông qua khoản phí DPRR được tính vào lãi suất cho vay và thu nhập tăng thêm từ việc cung cấp các sản phẩm bổ trợ. 
Đi cùng với đó, việc nâng cao dần mức độ tự chủ về tài chính cũng là tiền đề quan trọng để VDB được giao quyền tự chủ nhiều hơn trong triển khai các hoạt động nghiệp vụ, phù hợp với mục tiêu xây dựng VDB thành một ngân hàng chính sách hiện đại, bền vững và hiệu quả như đã xác định tại Chiến lược phát triển VDB./.
-----
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Tài chính (2017-2021), Báo cáo NSNN hàng năm 2016-2020, truy cập tại https://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/btc/r/lvtc/slnsnn/bcnsnnhn;
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030, truy cập tại https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xiii/chien-luoc-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-10-nam-2021-2030-3671; 
3. Nghị định số 32/2017/NĐ-CP về TDĐT của Nhà nước;
4. Nghị định số 46/2021/NĐ-CP về chế độ quản lý tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
5. Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững;
6. Quyết định số 1515/QĐ-TTg ngày 30/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
7. Quyết định số 369/QĐ-TTg ngày 28/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển Ngân hàng Phát triển Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030;
8. Quyết định số 44/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
9. Tổng cục Thống kê (2021), Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm, truy cập tại https://www.gso.gov.vn./.
Tìm theo ngày :

Khách online:36908
Lượt truy cập: 11627700