30/06/2021 10:51
Xem với cỡ chữ

Tài chính phát triển và mô hình hoạt động NHPT trong tương lai

Đặng Thị Hương Thảo, chi nhánh NHPT Ninh Bình (Bài đạt giải Ba - Cuộc thi viết về 15 năm thành lập VDB - Bài viết đã được biên tập phù hợp đăng trên Tạp chí HTPT)
Mối quan hệ giữa tài chính phát triển, tài chính chính sách và tài chính thương mại có thể được tóm tắt như sau: tài chính phát triển là một giai đoạn phát triển mới theo các nguyên tắc vận hành của tài chính chính sách được đưa vào thị trường, và nó là sự bổ sung hữu hiệu cho tài chính thị trường. Tài chính chính sách là khâu cơ bản của tài chính phát triển, sự kết hợp giữa tài chính chính sách và tài chính thương mại trong những điều kiện nhất định đã hình thành nên tài chính phát triển, cùng tạo thành nền tài chính hiện đại.
Các đại diện tiêu biểu của tài chính phát triển trên thế giới là Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á, Ngân hàng Phát triển Trung Quốc và Ngân hàng KfW của Đức. Các tổ chức tài chính phát triển có thể đạt được các mục tiêu phát triển của Chính phủ, hoàn thành những việc không thể thực hiện chỉ bằng cách dựa vào thị trường và tài chính thương mại, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội đồng bộ.
Các định chế tài chính phát triển đã trở thành một bộ phận quan trọng của hệ thống tài chính hiện đại, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, khắc phục những khiếm khuyết của thị trường và dẫn dắt dòng vốn. 
Đối với Ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB) hiện được định vị là một ngân hàng chính sách, nhiệm vụ chính là hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm thực hiện nhiệm vụ tín dụng chính sách của Nhà nước và các nhiệm vụ khác theo quy định của Chính phủ, không có yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Các tài liệu nước ngoài và tổ chức quốc tế phân loại các ngân hàng chính sách như vậy là ngân hàng phát triển theo mô hình cũ (ngân hàng chính sách truyền thống).
Thực tế chỉ ra, hiện tại việc tiếp tục duy trì vị thế của một ngân hàng chính sách truyền thống là không còn phù hợp. Nguyên nhân là các vấn đề do lịch sử hình thành rất khó giải quyết và năng lực phát triển bền vững sẽ bị hạn chế. VDB đang tích tụ nhiều vấn đề, bao gồm khả năng sinh lời thấp, thiếu vốn trầm trọng, thiếu cơ chế xử lý rủi ro... Cần phải cải thiện cơ chế khuyến khích và kiềm chế, tăng cường kiểm soát nội bộ và rủi ro. Tiếp tục duy trì mô hình ngân hàng chính sách hiện tại sẽ không thể đảo ngược tình trạng này.
Ngoài ra, nếu tiếp tục định vị là một ngân hàng chính sách, thực sự rất khó để phát triển. Điều này là do (1) Phạm vi kinh doanh bị giới hạn và không thể điều chỉnh kịp thời theo sự thay đổi của điều kiện thị trường; (2) Dựa vào quỹ tài chính do Chính phủ cung cấp, khi khả năng tài khóa của Quốc gia bị hạn chế, rất khó để cung cấp hỗ trợ tài chính liên tục cho các mục tiêu phát triển của Chính phủ; (3) Không phù hợp với xu thế phát triển chung của các ngân hàng chính sách quốc tế. Đánh giá xu hướng phát triển của các ngân hàng chính sách quốc tế hiện nay, cải cách và điều chỉnh đã trở thành xu hướng chủ đạo. Trên con đường cải cách, các ngân hàng này đã trở thành định chế tài chính phát triển như ngân hàng Phát triển Trung Quốc, thậm chí một số còn chuyển thành ngân hàng thương mại như ngân hàng Phát triển Singapore.
Từ những phân tích ở trên cho thấy định vị VDB là một tổ chức tài chính phát triển là xu hướng phù hợp với chiến lược phát triển Quốc gia và nhu cầu thực tế của sự phát triển của chính VDB. Trên cơ sở đó, xin gợi ý mô hình hoạt động trong tương lai như sau:
Mô hình trong tương lai
1. Định vị: VDB là tổ chức tài chính phát triển thuộc sở hữu Nhà nước và là cơ quan chính phủ tương đương cấp Bộ chịu lãnh đạo trực tiếp của Chính phủ. VDB báo cáo trực tiếp Chính phủ các vấn đề lớn mà VDB đang phải đối mặt.
2. Mục tiêu kinh doanh: Tập trung chặt chẽ vào việc phục vụ các chiến lược phát triển kinh tế trung và dài hạn chủ yếu của đất nước, thiết lập hoạt động theo định hướng thị trường, đảm bảo lợi nhuận ít ỏi và xây dựng đủ vốn, quản trị chuẩn hóa, kiểm soát nội bộ chặt chẽ để thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu phát triển của Chính phủ, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực xã hội, ổn định các biến động theo chu kỳ kinh tế, tăng cường hỗ trợ cho các khu vực trọng điểm và các liên kết yếu, thúc đẩy kinh tế và xã hội bền vững và lành mạnh phát triển.
3. Các lĩnh vực được hỗ trợ chủ yếu, bao gồm: (1) Các lĩnh vực phát triển kinh tế và xã hội như cơ sở hạ tầng, công nghiệp cơ bản, công nghiệp trụ cột, dịch vụ công và quản lý; (2) Các lĩnh vực đô thị hóa mới, liên kết đô thị - nông thôn và phát triển phối hợp vùng; (3) Việc chuyển đổi, nâng cấp và điều chỉnh cơ cấu các ngành công nghiệp truyền thống, cũng như tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường, sản xuất thiết bị cao cấp, công nghiệp quốc phòng, quân sự và các lĩnh vực khác nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc gia; (4) Các lĩnh vực theo yêu cầu của chiến lược Quốc gia như khoa học và công nghệ, văn hóa, giao lưu văn hóa; (5) Hợp tác quốc tế về năng lực sản xuất và chế tạo thiết bị, kết nối cơ sở hạ tầng, nguồn năng lượng, các doanh nghiệp của Việt Nam tài trợ “ra nước ngoài” và các lĩnh vực hợp tác quốc tế khác; (6) Các lĩnh vực liên quan đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước và cải cách kinh tế, tài chính Quốc gia; (7) Các lĩnh vực khác phù hợp với định hướng chính sách, chiến lược phát triển Quốc gia. 
4. Phạm vi kinh doanh: 
- Ngoài thực hiện nhiệm vụ chính sách VDB được hoạt động kinh doanh tự do. Phần kinh doanh này được định hướng thị trường về nguồn vốn và Chính phủ không trợ cấp hoặc hỗ trợ đặc biệt. Cung cấp các dịch vụ thương mại thông qua việc thành lập công ty con riêng biệt. Các công ty còn này hoặc thuộc sở hữu toàn bộ của VDB hoặc liên doanh với đối tác chiến lược, chuyên về các hoạt động kinh doanh có lợi nhuận thương mại và tham gia vào cạnh tranh thị trường. 
- VDB sẽ “ra nước ngoài” thông qua hoạt động đầu tư ra nước ngoài những lĩnh vực quan trọng đảm bảo cho sự phát triển lâu dài của đất nước, như năng lượng, tài nguyên … và điều kiện đi theo các hoạt động đầu tư này là sự tham gia của các công ty Việt Nam.
  5. Nguồn vốn: 
- Vốn đăng ký ban đầu: Nhà nước cấp thông qua Bộ Tài chính và Bộ Tài chính sở hữu 100% vốn sở hữu Nhà nước của VDB. 
- Huy động vốn thông qua các phương thức sau: (1) Phát hành trái phiếu tài chính và các loại chứng khoán khác trong và ngoài nước; 2) Vay liên ngân hàng, tiền gửi liên ngân hàng và kinh doanh mua lại; (3) Nhận tiền gửi của doanh nghiệp; (4) Các kênh tài trợ khác do Chính phủ phê duyệt. 
6. Cơ cấu quản trị: Gồm Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban kiểm soát và Quản lý cấp cao. Ngoài ra, có ủy ban của Chính phủ đặt tại trụ sở chính của VDB, ủy ban này phụ trách tổng hợp và đệ trình lên Chính phủ các vấn đề lớn VDB đang gặp phải cũng như truyền tải thông điệp của Chính phủ, cụ thể:
6.1. Hội đồng quản trị: Các thành viên HĐQT do Chính phủ bổ nhiệm và VDB có quan hệ chặt chẽ với các Bộ thông qua việc cán bộ cấp cao của một số Bộ là thành viên HĐQT. 
Ngoài các quyền khác, HĐQT của VDB có quyền được: (1) Xem xét, phê duyệt chiến lược phát triển trung và dài hạn, kế hoạch kinh doanh và kế hoạch đầu tư hàng năm của VDB; (2) Xây dựng phương án điều chỉnh phạm vi kinh doanh và bộ phận kinh doanh của VDB trình Chính phủ phê duyệt; (3) Thẩm tra và phê duyệt kế hoạch phát hành trái phiếu hàng năm của VDB; (4) Xem xét và phê duyệt kế hoạch quản lý vốn, lãi suất của VDB và kế hoạch phát hành công cụ bổ sung vốn; (5) Xây dựng kế hoạch sửa đổi Điều lệ; (6) Xem xét và phê duyệt các hệ thống quản lý cơ bản như quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ của VDB.
HĐQT thành lập các ủy ban đặc biệt: Ủy ban Quản lý Đầu tư và Phát triển Chiến lược; Ủy ban Kiểm toán; Ủy ban Quản lý Rủi ro; Ủy ban Kiểm soát Giao dịch của Bên liên quan và Ủy ban Nhân sự và Thù lao. Cụ thể:
Ủy ban Phát triển Chiến lược và Quản lý Đầu tư: cân nhắc về chiến lược phát triển dài hạn và mục tiêu tổng thể trong quản lý kinh doanh của VDB và đưa ra các đề xuất về những thay đổi trong kinh doanh; giám sát việc thực hiện kế hoạch hoạt động hàng năm, kế hoạch đầu tư; nghiên cứu các chiến lược Quốc gia và các chính sách hỗ trợ tư vấn cho HĐQT.
Ủy ban Kiểm toán: xem xét các chính sách và báo cáo công việc quan trọng của kiểm toán nội bộ; phê duyệt kế hoạch kiểm toán trung, dài hạn và kế hoạch kiểm toán hàng năm; hướng dẫn, giám sát, đánh giá và nhận xét về công tác kiểm toán nội bộ; giám sát và cho ý kiến về kiểm toán bên ngoài; và tư vấn về việc thuê và thay đổi đánh giá viên bên ngoài. 
Ủy ban quản lý rủi ro: xem xét các chiến lược quản lý rủi ro; giám sát quản lý cấp cao trong việc kiểm soát các rủi ro khác nhau liên quan đến tín dụng, thị trường, thanh khoản, hoạt động, quốc gia, lãi suất tài khoản ngân hàng, danh tiếng, công nghệ thông tin và quản lý rủi ro tổng thể, thực hiện đánh giá thường xuyên các chính sách rủi ro, quản lý và khả năng phục hồi; tư vấn về cách cải thiện quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ. 
Ủy ban Kiểm soát Giao dịch Bên liên quan: quản lý, xem xét và phê duyệt các giao dịch của các bên liên quan; kiểm soát rủi ro của các giao dịch với bên liên quan; và đảm bảo tính toàn vẹn và công bằng trong các giao dịch với bên liên quan giữa VDB và các chi nhánh của VDB. 
Ủy ban Nhân sự và Thù lao: xem xét hệ thống và chính sách khuyến khích, hạn chế của ngân hàng; xây dựng và thực hiện kế hoạch thù lao cho các giám đốc điều hành, quản lý cấp cao; tư vấn cho HĐQT về kế hoạch thù lao và giám sát việc thực hiện; quyết định các thủ tục và tiêu chuẩn lựa chọn giám đốc và quản lý cấp cao, đồng thời kiểm tra tư cách của các ứng viên cho giám đốc, quản lý cấp cao và tư vấn cho HĐQT về vấn đề này. 
6.2. Ban Kiểm soát do Chính phủ chỉ định để đại diện cho các cơ quan liên quan của Chính phủ và giám sát, theo dõi hoạt động quản lý, hoạt động và tình hình tài chính của VDB. Các giám sát viên được chọn từ Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch, Bộ Ngoại giao và một công ty kiểm toán công được chỉ định. Ban kiểm soát giám sát việc quản lý tài chính của VDB, chất lượng tài sản và việc bảo toàn và đánh giá giá trị tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, giám sát hiệu quả hoạt động và trách nhiệm giải trình của các giám đốc, quản lý cấp cao, đồng thời giám sát việc ra quyết định kinh doanh, quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ của VDB.
6.3. Ban quản lý cấp cao sẽ bao gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch điều hành, Thư ký Hội đồng quản trị và các Giám đốc điều hành khác. 
Điều kiện để mô hình khả thi
- Làm giàu vốn là yêu cầu cơ bản để chuyển đổi sang tổ chức tài chính phát triển. Lý do cơ bản là khi có tiềm lực vốn mạnh VDB có thể thuê đơn vị tư vấn; mua và áp dụng các công nghệ hiện đại trên cơ sở đó thiết lập hệ thống thanh toán nhanh chóng, thuận tiện, bảo mật đáp ứng nhu cầu khách hàng… Tiếp theo là nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu - ý nghĩa rất lớn do có thể tăng mức độ tín dụng trên thị trường và giảm chi phí tài trợ. Đồng thời là đế đệm rủi ro hoạt động của ngân hàng, một khi ngân hàng bị lỗ thì trước hết sẽ dùng vốn để bù đắp, nếu không đủ vốn bù lỗ thì Nhà nước sẽ trợ cấp. Ngoài ra, các tổ chức xếp hạng quốc tế cũng coi tỷ lệ an toàn vốn là một thước đo quan trọng để đánh giá xếp hạng ngân hàng, sẽ ảnh hưởng đến hoạt động tài chính quốc tế của ngân hàng ở mức độ lớn. 
Thiếu vốn trầm trọng, thiếu cơ chế bổ sung vốn rõ ràng đang là vấn đề mà VDB phải đối mặt. Bởi vậy, ngoài việc nâng cao khả năng tích lũy vốn của VDB, vốn hóa thông qua dự trữ vốn, dự trữ thặng dư, lợi nhuận chưa phân phối, Chính phủ phải thiết lập một cơ chế chính sách bổ sung vốn cho ngân hàng tạo sự hỗ trợ và đảm bảo mạnh mẽ để xây dựng VDB thành một tổ chức tài chính phát triển có đủ vốn, quản trị theo tiêu chuẩn, kiểm soát nội bộ chặt chẽ, vận hành an toàn, dịch vụ chất lượng cao và tài sản tuyệt vời. Trong tương lai, khi việc cải cách VDB sâu rộng, có thể xem xét việc thu hút đầu tư từ các nhà đầu tư chiến lược (chỉ mang yếu tố Nhà nước) để tăng vốn, ví dụ như ngân hàng Phát triển Trung quốc ban đầu Bộ Tài chính Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (MOF) giữ 100% vốn, tuy nhiên sau đó đã cổ phần, các cổ đông là MOF, Công ty TNHH Đầu tư Central Huijin, Công ty TNHH Nền tảng Đầu tư Wutong Tree và Hội đồng Xã hội Quốc gia. Tỷ lệ sở hữu cổ phần lần lượt là 36,54%, 34,68%, 27,19% và 1,59%. 
- VDB phải có kiến thức sâu rộng về thị trường vốn, ngân hàng, quy định, và quan trọng nhất là các lĩnh vực sẽ hỗ trợ. VDB không thể hoàn toàn dựa vào thị trường tài chính để phân bổ các nguồn lực này bởi vậy, phải có năng lực kỹ thuật để làm việc đó một cách độc lập. Liên quan, nó đòi hỏi sự rõ ràng về chính sách từ phía Chính phủ. Các nhà hoạch định chính sách phải thực hiện hướng dẫn rõ ràng về mức độ ưu tiên của VDB và hơn nữa, có niềm tin vào VDB để thực hiện các mục tiêu này một cách độc lập. Theo đó: 
+ VDB được quyền chủ động trong kế hoạch phát hành trái phiếu: khối lượng, lãi suất, kỳ hạn… Để hỗ trợ cho việc phát hành, trái phiếu của VDB được công nhận là trái phiếu tài chính chính sách được tài chính Nhà nước bảo đảm và thuộc về trái phiếu cơ quan Chính phủ, miễn thuế đối với thu nhập tạo ra từ trái phiếu.
+ VDB được và tích cực tham gia vào quy hoạch 5 năm Quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch công nghiệp của nhiều tỉnh, thành phố, Trong quá trình lập kế hoạch, VDB xem xét toàn diện chiến lược phát triển Quốc gia, mở ra các kế hoạch cho các khu vực và ngành khác nhau, để xây dựng các dự án dự trữ dựa trên cơ sở này. Bằng cách làm này VDB sẽ dần dần thoát khỏi sự can thiệp quá mức của chính quyền Trung ương và giành đủ độc lập cho hoạt động kinh doanh của mình. Ngoài ra, VDB được chủ động trong xây dựng kế hoạch kinh doanh, quyết định lãi suất cho vay dựa theo mô hình định giá khoản vay và khẩu vị rủi ro. Điều này giúp VDB phát huy hết vai trò đặc biệt vai trò phản chu kỳ. Ví dụ, trước sự bùng phát của dịch Covid -19,  VDB xây dựng một kế hoạch hành động nhằm tận dụng vai trò của tài chính phát triển để chống lại Covid-19 và hỗ trợ ổn định kinh tế,  xã hội. Một số chính sách cho vay khẩn cấp được tạo ra để tăng cường hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp quan trọng trong việc kiểm soát dịch bệnh, cho vay vốn lưu động với lãi suất ưu đãi để phục hồi sản xuất và phục vụ sản xuất. Nguồn vay đặc biệt từ NHNN/phát hành trái phiếu cụ thể tạo nguồn tài trợ chi phí thấp để tạo ra các khoản vay khẩn cấp đó.  
- Cải thiện cơ cấu tổ chức và quản trị nhằm đáp ứng với mô hình hoạt động.
- Phải thiết lập hệ thống đảm bảo tách biệt chặt chẽ giữa hoạt động chính sách và thương mại. Cụ thể, kinh đoanh chính sách và kinh doanh thương mại nên được quản lý riêng biệt. Hoạt động thương mại là quản lý theo định hướng thị trường. Hoạt động chính sách thực hiện hiện quản lý đặc biệt, tức là có quy trình phê duyệt rõ ràng, cơ chế bù đắp rủi ro được xác định trước theo nguyên tắc “ai giao trách nhiệm”, “ai bồi thường” và tính toán riêng.
- Các biện pháp giám sát và quản lý của VDB; giám sát việc thực hiện các chiến lược và chính sách Quốc gia; điều chỉnh hoạt động kinh doanh và ngăn ngừa, kiểm soát hiệu quả rủi ro tài chính cần được ban hành thành Luật/Lệnh riêng. Trong văn bản giám sát đó cần khẳng định rõ định vị thị trường; mục tiêu; cơ cấu tổ chức; quản lý rủi  ro, kiểm soát nội bộ và trách nhiệm các bên liên quan trong giám sát hoạt động của VDB.
Kết luận
Với vai trò là cầu nối giữa Chính phủ và thị trường, các tổ chức tài chính phát triển kết hợp vai trò tổ chức và điều phối của Chính phủ, vai trò phân bổ nguồn lực của thị trường cũng như vai trò tài trợ và đầu tư trung, dài hạn của tài chính phát triển, đồng thời thúc đẩy thành lập ở các khu vực cần phát triển để thu hút sự tham gia liên tục của các quỹ xã hội. Thực hiện một vòng tròn lành mạnh của thị trường, tín dụng, quy tắc và hệ thống, giúp các khu vực cần thúc đẩy hình thành cơ chế tài chính theo định hướng thị trường và bền vững, đồng thời nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực xã hội. Các nước đang phát triển và đã phát triển đều cần các tổ chức tài chính phát triển để đạt được các mục tiêu phát triển của Chính phủ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội phối hợp. Khác với các định chế tài chính dựa trên chính sách truyền thống, tài chính phát triển có phạm vi hoạt động đa dạng, nhiều lĩnh vực có thể thực hiện độc lập nhưng định hướng chung của nó là hoàn thành các mục tiêu phát triển của Chính phủ. Với ý nghĩa đó VDB hoạt động theo mô hình tài chính phát triển là phù hợp với chiến lược phát triển Quốc gia và nhu cầu thực tế của sự phát triển của chính VDB.
Tài liệu tham khảo:
1. CDB, 2019, Báo cáo thường niên; 
2. Erica Downs, 2011, Inside China, Inc: China bank’s Cross - Border Energy Deals;
3. Greenovation:hub, 2016, China’s Development financing under “The Belt and Road” initiative;
4. Mô hình lợi nhuận và cơ chế kiểm soát rủi ro của các tổ chức tài chính phát triển: http://ww.xzbu.com/3/view-1408183.htm;
5. Sanderson Henry và Forsythe Michael, 2013, China’s Superbank Debt, Oil and Influence - How China Development Bank Is Rewriting the Rules of Finance;
6. Suy nghĩ về vị trí chức năng của Ngân hàng Phát triển Trung Quốc từ quan điểm so sánh quốc tế. http://www.iolaw.org.cn/showNews.aspx?id=61468;
7. Tái định vị Ngân hàng chính sách: Khái niệm Tài chính phát triển được chấp nhận bởi các Giám đốc cấp cao:  
http://finance.sina.com.cn/money/bank/bank_hydt/20150511/130922151670.shtml;
8. Https://www.gtreview.com/news/asia/ratings-for-china-development-bank/;
9. 2017, The Future of National Development Banks ./.
Tìm theo ngày :

Khách online:37418
Lượt truy cập: 11628441